Luật Dân Sự

Bồi thường dân sự

Một quy luật khách quan của thực tiễn cho thấy rằng: nếu một người nào đó gây ra thiệt hại (dù vô tình hay cố ý) thì phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mình gây ra. Cho tới hiện tại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại không còn là quy tắc đạo đức mà đã được pháp điển hóa, ghi nhận thành một chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự.

Khi nào phải bồi thường thiệt hại?

Theo quy định tại Điều 11 Bộ luật Dân sự hiện hành, khi quyền dân sự của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm thì có thể yêu cầu các bên có liên quan phải bồi thường thiệt hại.

Không chỉ vậy, Điều 584 Bộ luật trên cũng nêu rõ, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường là khi có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản… mà gây thiệt hại.

Như vậy, có thể hiểu, một người chỉ phải bồi thường thiệt hại khi:

–  Có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác;

– Có thiệt hại xảy ra.

Đặc biệt: Nếu do sự kiện bất khả kháng hoặc thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì không phải bồi thường. Nếu tài sản gây thiệt hại thì người có trách nhiệm bồi thường là chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản đó.

Như vậy, một người chỉ phải bồi thường khi có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác và có thiệt hại thực tế xảy ra.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định khác.

Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại tại Điều 585.

Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời

Nguyên tắc chung là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. 

Khoản 1 Điều 585 quy định “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Giảm mức bồi thường

Tuy nhiên để đảm bảo tính khả thi của bản án, quyết định của tòa án, phù hợp với những điều kiện thực tế của các đương sự trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,

Khoản 2 Điều 585 quy định “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.”

Quy định này không quy định về việc giảm mức bồi thường là bao nhiêu. Việc giải quyết mức bồi thường phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, mức độ lỗi của người bị thiệt hại, người gây ra thiệt hại (vô ý nặng, nhẹ) Tòa án phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để quyết định giảm mức bồi thường

Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắc và lâu dài của người gây thiệt hại là cơ sở để giảm mức bồi thường.

Cần phân biệt giảm mức bồi thường với việc tạm hoãn thi hành án. Trong thi hành án, người không có khả năng kinh tế trước mắc có thể được tạm hoãn thi hành án

Trường hợp mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế

Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Mức bồi thường thiệt hại có thể do các bên thỏa thuận hoặc tòa án quyết định.

Tuy nhiên, mức bồi thường đã thỏa thuận và quyết định có thể bị thay đổi nếu mức bồi thường ” không còn phù hợp với thực tế” Việc xem xét các điều kiện thực tế và xác định sự phù hợp căn cứ vào yêu cầu của các bên, thực tế cần phải thay đổi mức bồi thường như người được bồi thường tăng thu nhập, phải chi phí thêm để chữa bệnh,.. Việc xem xét tăng hoặc giảm mức bồi thường do tòa án xác định theo yêu cầu của các bên

Trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại

Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Đối với bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm

Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Ý nghĩa của việc quy định Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra là nguyên tắc công bằng, hợp lí phù hợp với mục đích và chức năng phục hồi của chế định pháp luật này.

Bồi thường kịp thời cho người bị thiệt hại nhằm khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Điều này có ý nghĩa quan trọng khi thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của cá nhân bị xâm hại.

Việc quyết định bồi thường kịp thời có ý nghĩa lớn đối với nạn nhân trong việc cứu chữa, hạn chế thiệt hại bởi các chi phí cho việc cứu chữa bệnh nhân trong điều kiện này nhiều khi vượt quá khả năng của nạn nhân. Việc quy định về thủ tục tố tụng để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này là rất cần thiết.

Mức bồi thường thiệt hại tăng nhiều nhất từ 01/7/2020

Cũng theo Bộ luật Dân sự, một người phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Trong đó, mức bồi thường phải căn cứ vào thiệt hại thực tế xảy ra. Và thiệt hại này phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Về cách thức và số lần bồi thường thiệt hại, các bên có thể thỏa thuận.

Cơ quan có thẩm quyền sẽ công nhận sự thỏa thuận của các bên.

Không chỉ vậy, ngoài mức bồi thường thực tế thì khi bị thiệt hại, người gây ra phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần. Trong đó, mức bù đắp do các thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì sẽ bị ấn định:

– Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở;

– Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở;

– Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín; mồ mả bị xâm phạm: Tối đa không quá 10 lần mức lương cơ sở;

– Thiệt hại do thi thể bị xâm phạm: Tối đa không quá 30 lần mức lương cơ sở;

Trong đó, hiện nay, theo Báo cáo ngân sách được Bộ Tài chính công bố tháng 10 vừa qua, năm 2020 sẽ tiếp tục tăng lương cơ sở từ 1,49 triệu đồng/tháng lên 1,6 triệu đồng/tháng. Như vậy, khi lương cơ sở tăng thì mức tiền bồi thường thiệt hại cũng tăng mạnh, cụ thể:

Đơn vị: triệu đồng

STT

Mức bù đắp tổn thất tinh thần do thiệt hại về

Hiện nay (mức lương cơ sở = 1,49)

Từ 01/7/2020 (mức lương cơ sở = 1,6)

1

Sức khỏe

74,5

80

2

Tính mạng

149

160

3

Danh dự, nhân phẩm, uy tín

14,9

16

4

Xâm phạm thi thể

44,7

48

5

Xâm phạm mồ mả

14,9

16

Căn cứ bảng trên, có thể thấy khi mức lương cơ sở tăng lên 1,6 triệu đồng/tháng thì mức bồi thường cũng tăng theo số tiền này sẽ tăng cao nhất trong những năm trở lại đây.

Như vậy về nguyên tắc chung khi áp dụng trách nhiệm dân sự không cần xác định mức lỗi của người vi phạm là vô ý hay cố ý nếu các bên không có thỏa thuận và không có quy định pháp luật khác.

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775