Tư vấn pháp luật

CẤM KINH DOANH DỊCH VỤ ĐÒI NỢ THUÊ TỪ NGÀY 01/01/2021

Sau đây bộ phận tư vấn pháp luật Tư vấn luật miễn phí xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết về Cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê khi Luật đầu tư 2020 có hiệu lực;

1. Cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê theo Luật đầu tư 2020

Từ ngày 01/01/2021, chính thức cấm tổ chức, cá nhân đầu tư kinh doanh ngành nghề “Kinh doanh dịch vụ đòi nợ”.

Ngày 17/6/2020, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Đầu tư 2020 (chính thức bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/012021). Theo đó, bổ sung ngành nghề “Kinh doanh dịch vụ đòi nợ” vào danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh.

Đối với các hợp đồng cung cấp dịch vụ đòi nợ ký kết trước ngày 01/01/2021 chấm dứt hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021; các bên tham gia hợp đồng được thực hiện các hoạt động để thanh lý hợp đồng cung cấp dịch vụ đòi nợ theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Một điểm đáng chú ý và nhận được sự quan tâm của người dân, doanh nghiệp là việc cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ[1] theo Luật Đầu tư (sửa đổi) số 61/2020/QH14. Theo đó, kể từ ngày 01/01/2021 khi Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 có hiệu lực thì các dịch vụ đòi nợ sẽ chấm dứt.

Như vậy, sau ngày 01/01/2021;    

Dịch vụ thu hồi nợ không còn là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện như quy định của Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 và các Nghị định hướng dẫn thi hành[2];

Những “doanh nghiệp đang được cấp phép kinh doanh đòi nợ vẫn tiếp tục hoạt động cho đến khi Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 có hiệu lực (1/1/2021), sau thời điểm này tất cả các dịch vụ kinh doanh đòi nợ sẽ chấm dứt và các doanh nghiệp kinh doanh đòi nợ cũng phải thanh quyết toán tất cả các dịch vụ này tới ngày 01/01/2021.

Trước đó theo quy định tại Luật đầu tư 2014 được quy định về dịch vụ kinh doanh đòi nợ nằm trong nhóm ngành nghề kinh doanh có điều kiện và được quy định như sau:

Căn cứ pháp lý : Luật đầu tư 2014 quy định

“Kinh doanh dịch vụ đòi nợ” là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Theo đó, tổ chức, cá nhân được đăng ký kinh doanh dịch vụ này khi đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Nghị định 104/2007/NĐ-CP, cụ thể như sau:

(1) Điều kiện về vốn:

– Mức vốn pháp định đối với ngành nghề kinh doanh dịch vụ đòi nợ là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).

– Trong suốt quá trình hoạt động, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ phải duy trì mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định.

(2) Điều kiện về tiêu chuẩn đối với người quản lý và giám đốc chi nhánh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ:

– Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

– Có trình độ học vấn từ đại học trở lên thuộc một trong các ngành: kinh tế, quản lý, pháp luật, an ninh.

– Không có tiền án.

– Những người đã làm việc cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ khác đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải thoả mãn thêm điều kiện: trong ba năm trước liền kề, không giữ chức danh quản lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ.

(3) Điều kiện về tiêu chuẩn đối với người lao động trong hoạt động dịch vụ đòi nợ:

– Người lao động được tuyển dụng theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động có xác định thời hạn từ sáu tháng trở lên.

– Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

– Có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên thuộc một trong các ngành: kinh tế, quản lý, pháp luật, an ninh.

– Không có tiền án;

Hiện nay Luật đầu tư 2020 đã có những thay đổi rõ rệt về dịch vụ ngành nghề đòi nợ thuê đối với luật đầu tư 2014 như vậy kể từ ngày 01/01/2021 ngành nghề bị cấm hoạt động, vì đã nằm trong danh mục ngành nghề kinh doanh bị cấm khi luật có hiệu lực.

Có lẽ trong cuộc sống, thực lòng thì chẳng ai muốn cho nợ và cũng chẳng ai muốn bị đòi nợ. Bởi vậy, khi cho vay hoặc khi bán hàng hóa, dịch vụ thì người cho vay, người bán hàng hóa, dịch vụ chỉ muốn thu được tiền và người vay, người mua hàng hóa, dịch vụ chắc cũng chỉ muốn trả cho dứt nợ.Việc người vay, người mua hàng hóa, dịch vụ không trả được nợ đúng hạn có thể làm mất đi hòa khí, niềm tin của người khác về bản thân, và thậm chí cả danh dự, uy tín của cá nhân, doanh nghiệp trong cộng đồng.

Thực tế, không ít người trong chúng ta là nạn nhân của những chiêu trò khủng bố, đe dọa từ những người nặc danh hoặc đại diện cho chủ nợ. Thậm chí, cũng không hiếm người ta còn chịu nhiều biện pháp mạnh và với cường độ liên tục gây ức chế tâm lý, lo sợ và hành động thiếu kiềm chế mà hậu quả pháp lý thường rất nguy hiểm.

Nhiều chủ nợ thậm chí còn vướng vòng lao lý vì kiểu đòi nợ giang hồ, xã hội đen. Những thực tế đó có lẽ là một trong số những lý do dẫn tới dịch vụ thu hồi nợ của các doanh nghiệp phải dừng lại vào ngày 1/1/2021 theo quy định của Luật Đầu tư 2020. 

2. Cấm dịch vụ đòi nợ thuê có phải là cách giải quyết triệt để ?

Tuy nhiên, chưa bao giờ các giải pháp cấm đoán, ngăn chặn của Luật pháp phát huy được hiệu quả và tác dụng mong muốn. Một số thậm chí còn có tác dụng ngược, gây ra những hệ quả xấu trong đời sống người dân.

Thực tế vậy, khi Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực vào ngày 01/01/2021 thì tất cả các hoạt động thu hồi nợ của doanh nghiệp được cấp phép và hoạt động chân chính, tuân thủ luật pháp sẽ bị buộc phải dừng lại. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chủ nợ, người bán hàng hóa, dịch vụ mất đi một cơ chế để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi không thể sử dụng các doanh nghiệp thu hồi nợ chân chính, trung thực thực hiện việc thu hồi các khoản nợ.

Khi Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực vào ngày 01/01/2021 thì chủ nợ và người bán hàng hóa, dịch vụ chỉ có thể sử dụng Tòa án, Trọng tài và Luật sư như là những cứu cánh cuối cùng để thu hồi các khoản nợ.

3. Gây hiểu nhầm với dịch vụ pháp lý của luật sư về thu hồi nợ

Khi các hoạt động thu hồi nợ của doanh nghiệp bị chấm dứt kể từ ngày 01/01/2021 thì các tổ chức, cá nhân có ý định thu hồi nợ sẽ sử dụng dịch vụ pháp lý của các tổ chức hành nghề Luật mà ở đó chủ thể có vai trò quan trọng nhất là Luật sư để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đây sẽ là một công cụ pháp lý quan trọng để chủ nợ bảo vệ quyền lợi của mình, tạo động lực cho các chủ thể khác trong xã hội tham gia vào các giao dịch kinh tế, dân sự.

Điều gây ra không ít băn khoăn cho những người trong cuộc khi Luật Đầu tư 2020 cấm dịch vụ thu hồi nợ đó là: Vậy các dịch vụ pháp lý do Luật sư thực hiện để hỗ trợ khách hàng sẽ hoạt động như thế nào sau ngày 01/01/2021.

Và để thực hiện các dịch vụ của mình, Luật sư sẽ liên tục phải sử dụng các kỹ năng khác nhau để “để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng”. Chẳng hạn kỹ năng thương lượng, đàm phán, kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng soạn thảo đơn từ và liên hệ với các cơ quan chức năng.

Các dịch vụ nói trên thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Luật sư và không liên quan đến các ngành nghề kinh doanh có điều kiện như được nêu tại Phụ lục 4 của Luật Đầu tư, trong đó có nghành, nghề Luật sư.

Nói cách khác, Luật Đầu tư sửa đổi số 61/2020/QH14 ra đời là cơ sở để khẳng định rằng: sau ngày 01/01/2021 chỉ có Luật sư hoặc tổ chức hành nghề được cấp phép hành nghề hợp pháp tại Việt Nam mới là chủ thể duy nhất có thể hỗ trợ, trợ giúp cho khách hàng trong việc thu hồi các khoản nợ.

4. Lợi ích của luật sư khi tham gia hỗ trợ cho khách hàng khi thu hồi nợ

Không phải ngẫu nhiên mà việc thu hồi các khoản nợ (do vay tiền, vay tài sản hay thực hiện một nghĩa vụ thanh toán cho người bán v.v) lại trở nên khó khăn, vất vả và tốn kém với các chủ nợ. Có nhiều lý do dẫn tới tình trạng này, trong đó phải kể tới:

Thứ nhất, chủ nợ chưa có được các kỹ năng, kỹ thuật và phương án thu hồi nợ phù hợp

Khi tới hạn, các chủ nợ thường chỉ dựa vào mối quan hệ thân hữu để yêu cầu thanh toán. Khi người vay hoặc người mua trì hoãn việc trả nợ thì các chủ nợ ngoài giải pháp chờ đợi thường không biết cách để thu hồi các khoản nợ cho hiệu quả.

Thứ hai, nhiều khoản nợ cần thẩm định giá trị pháp lý, cơ sở phát sinh nghĩa vụ trả nợ cũng như khoản tiền lãi (nếu có)

Khi cho vay hoặc khi cung cấp một dịch vụ, hàng hóa nhất định thì người cho vay hoặc người bán chỉ nghĩ rất đơn giản rằng: người vay hoặc người mua sẽ có nghĩa vụ trả nợ hoặc thanh toán ngay khoản tiền còn nợ. Tuy nhiên, trong hợp đồng vay, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng mua bán thường có những quy định về thời hạn trả nợ, cơ sở để xác định nghĩa vụ, thời hạn trả v.v.

Do vậy, không ít chủ nợ và người cung cấp dịch vụ, hàng hóa không nắm rõ các quy định này dẫn tới việc thu hồi các khoản nợ không phù hợp với quy định của hợp đồng, của pháp luật

Thứ ba, thỏa thuận về việc trả nợThậm chí, khi các bên đã đạt được các thỏa thuận về việc trả nợ thì chủ nợ, người bán cũng không dễ dàng có thể soạn thảo được các quy định pháp lý chặt chẽ

Thứ tư, về các phương án tái cấu trúc nợ

Sẽ rất khó khăn cho các bên khi phải xử lý việc tái cơ cấu khoản nợ, giảm nghĩa vụ trả lãi hoặc các thỏa thuận khác để tạo điều kiện cho bên vay, người mua hàng hóa, dịch vụ có cơ hội để thu xếp tài chính và để thanh toán các khoản nợ.

Khó khăn khi chủ nợ tự mình thu hồi nợ

Do vậy, Luật sư sẽ là người hỗ trợ các bên xử lý các vấn đề phát sinh trong việc thu hồi các khoản nợ. Thậm chí, trong trường hợp cần thiết thì Luật sư sẽ biết cách tư vấn cho chủ nợ, người vay, người mua hàng hóa, dịch vụ các phương án khác nhau để lựa chọn, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể.

Khi cần, Luật sư có thể thay mặt khách hàng để khởi xướng một vụ kiện dân sự, hoặc khi có yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ trình báo và tố giác tội phạm tới các cơ quan chức năng. Ngược lại, ở vị trí bảo vệ cho người vay, người mua hàng hóa, dịch vụ thì Luật sư cũng có thể thay mặt khách hàng điều đình, đàm phán với chủ nợ, người bán hoặc với các cơ quan bảo vệ pháp luật để có hướng xử lý kịp thời.

Khi Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực, Luật sư nên là một công cụ pháp lý quan trọng để chủ nợ bảo vệ quyền lợi của mình, tạo động lực cho các chủ thể khác trong xã hội tham gia vào các giao dịch kinh tế, dân sự.

Trên đây là nội dung tư vấn về cấp phép giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư của nhân viên tư vấn luật Tư vấn luật miễn phí gửi tới quý độc giả mọi thắc mắc xin gọi vào số hotline tư vấn

 

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775