Hợp đồng lao động

Hiệu lực của hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động có hiệu lực kể từ ngày các bên giao kết trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Từ ngày 1/1/2021, Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực. Từ ngày này, hợp đồng lao động phải có 10 nội dung chủ yếu.

Theo Điều 21 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

1- Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động và họ tên, chức danh của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động (quy định cũ chỉ yêu cầu phải có tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp);

2- Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động (theo quy định cũ chỉ cần có: Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số Chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động);

3- Công việc và địa điểm làm việc;

4- Thời hạn của hợp đồng lao động;

5- Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;

6- Chế độ nâng bậc, nâng lương;

7- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

8- Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;

9- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp (quy định mới bổ sung bảo hiểm thất nghiệp);

10- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề.

Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực từ 1/1/2021.

Từ 2021, bỏ hợp đồng lao động thời vụ

Theo quy định tại điều 20 Bộ Luật Lao động 2019, hợp đồng lao động phải được giao kết bằng một trong các loại:

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn, là loại hợp đồng mà hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

Hợp đồng lao động xác định thời hạn, là loại hợp đồng mà hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực.

Khác với hiện nay, theo điều 22 Bộ Luật Lao động 2012, người lao động và người sử dụng lao động còn có thể xác lập quan hệ lao động thông qua hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng (thường gọi là hợp đồng thời vụ).

Như vậy, từ 1/1/2021 khi Bộ Luật Lao động 2019 chính thức được áp dụng thì hợp đồng thời vụ sẽ không còn. Mọi quan hệ lao động với công việc dưới 36 tháng đều được ký hợp đồng lao động xác định thời hạn, kể cả những công việc chỉ thực hiện trong một vài tháng.

Câu hỏi:

Cho tôi hỏi 2 bên khi giao kết hợp đồng dân sự có thể để hiệu lực của hợp đồng bắt đầu trong quá khứ không? Giả sử tôi làm việc cho Công ty X từ tháng 01/2018 nhưng đến tháng 06/2018 công ty mới ký hợp đồng lao động thì sẽ xử lý thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.

Căn cứ vào quy định trên, thông thường hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.

Đối với trường hợp bạn nêu, bạn làm việc cho Công ty X từ tháng 01/2018 nhưng đến tháng 06/2018 công ty mới ký hợp đồng lao động, căn cứ vào Điều 25 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:

Hợp đồng lao động có hiệu lực kể từ ngày các bên giao kết trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Theo đó, người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lao động.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động quy định nghĩa vụ giao kết hợp đồng:

Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

Như vậy, nếu bạn làm việc tại công ty X từ tháng 01/2018 thì công ty X và bạn phải giao kết hợp đồng từ thời điểm kết thúc thử việc (nếu có).

Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được lập thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp làm công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng (các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói).

Việc để tới tháng 6/2018 mới giao kết hợp đồng là vi phạm quy định về nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động. Công ty chậm ký hợp đồng lao động có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP sửa đổi tại Nghị định 88/2015/NĐ-CP:

Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc có thời hạn trên 03 tháng […] từ:

+ 01 – 02 triệu đồng với vi phạm từ 01 – 10 người lao động;

+ 02 – 05 triệu đồng với vi phạm từ 11 – 50 người lao động;

+ 05 – 10 triệu đồng với vi phạm từ 51 – 100 người lao động;

+ 10 – 15 triệu đồng với vi phạm từ 101 – 300 người lao động;

+ 15 – 20 triệu đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Như vậy, trong trường hợp công ty bạn không ký kết hợp đồng với bạn thì có thể sẽ bị xử phạt theo quy định trên.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email

Quý khách có bất kỳ vấn đề nào cần tư vấn, hãy đặt câu hỏi cho các luật sư để được tư vấn một cách nhanh chóng nhất!

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775