Hôn nhân gia đình

Ly hôn đơn phương có được không

CÁC BƯỚC VÀ THỦ TỤC LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG?

Ly hôn là việc hệ trọng của một đời người, nên việc ly hôn đơn phương lại khó khăn, phức tạp hơn so với ly hôn thuận tình. Khó khăn hơn bởi vì người không đồng ý ly hôn nếu họ không hợp tác với Tòa án, thì thời gian giải quyết sẽ bị kéo dài, quy trình thủ tục phức tạp hơn và đặc biệt người xin ly hôn đơn phương phải có lý do ly hôn và đủ điều kiện thì Tòa án mới cho ly hôn đơn phương. Vì vậy, trước hết tôi khuyên các bạn nếu không quyết tâm mà còn do dự, còn tình cảm, tình nghĩa vợ chồng với nhau, thì nên suy nghĩ lại quyết định ly hôn đơn phương.  

Sau khi đã suy nghĩ kỹ lưỡng và quyết định sẽ ly hôn ly đơn phương, bạn sẽ thực hiện theo các bước và thủ tục như sau:

Bước 1Chuẩn bị các giấy tờ pháp lý và thông tin cần thiết về vợ/chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung (nếu có nợ chung).

Tài liệu, thông tin cơ bản cần chuẩn bị để nộp cho Tòa án gồm: Giấy đăng ký kết hôn (bản chính); CMND/hộ chiếu/hộ khẩu (bản sao) của vợ chồng; tài liệu chứng minh về nơi cư trú của vợ/chồng nếu nơi đang cư trú thực tế khác đỉa chỉ thường trú; bản sao giấy khai sinh các con; bản sao tài liệu chứng minh tài sản chung của vợ/chồng (bất động sản và tài sản có đăng ký) như giấy chủ quyền đất/nhà, đăng ký xe, sổ tiết kiệm… và nợ chung (nếu có);

Bước 2Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn (Là Tòa án cấp quận, huyện nơi bị đơn (người không đồng ý ly hôn) đang cư trú hoặc làm việc thực tế sẽ có thẩm quyền thụ lý giải quyết việc lý hôn; nếu ly hôn có yếu tố nước ngoài thì thuộc Tòa án cấp tỉnh);

Bước 3: Đến Tòa án sẽ giải quyết việc ly hôn đã xác định tại Bước 2 để hỏi và được hướng dẫn thủ tục viết đơn khởi kiện/đơn xin ly hôn hoặc mua đơn xin ly hôn  (nếu có bán) hoặc tự mình hoặc nhờ luật sư soạn thảo đơn khởi kiện/đơn xin ly hôn theo nội dung, yêu cầu ly hôn mình mong muốn;

Bước 4: Nộp đơn khởi kiện đã ký và hồ sơ đã chuẩn bị như nêu tại Bước 1 cho Tòa án đã được xác định như Bước 2 và nhận giấy hẹn;

Bước 5: Đến hẹn trả kết quả, lên Tòa án để nhận Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, rồi nộp án phí cho Chi cục Thi hành án như trong thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, sau đó quay về Tòa án nộp 01 biên lai đóng án phí lại cho Tòa án;

Bước 6: Chờ giấy triệu tập của Tòa án để lên làm việc theo thời gian ghi trong giấy triệu tập để viết bản tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử vụ việc ly hôn theo giấy triệu tập từng lần của Tòa án;

Bước 7: Nhận bản án, quyết định của Tòa án đã giải quyết và kháng cáo (nếu không đồng ý kết quả xét xử).

Căn cứ xác định lý hôn

Pháp luật quy định quan hệ hôn nhân được xây dựng và tồn tại dựa trên nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, đôi bên cùng tự nguyện, nhưng thực tế cho thấy không phải sau mỗi căn nhà đều là một gia đình, một quan hệ hôn nhân hoàn mỹ, hoàn hảo. Có những mâu thuẫn, xung đột  xảy ra trong cuộc sống khiến cho tình trạng hôn nhân của các cặp vợ, chồng lâm vào bế tắc, không thể tiếp tục kéo dài thì họ có thể quyết định ly hôn.  Pháp luật quy định hai hình thức thuận tình ly hôn và đơn phương ly hôn. Vậy nếu muốn đơn phương ly hôn thì cần căn cứ như thế nào sẽ  được coi là chính đáng và được pháp luật xác định là cơ sở pháp lý ly hôn theo yêu cầu của một bên.

Những căn cứ theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 được xác định là căn cứ để xem xét vợ/chông có quyền ly hôn theo yêu cầu. Cụ thê:

1. Vợ chồng có quyền yêu cầu ly hôn.

 Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Căn cứ về việc vợ chồng có hành vi bạo lực gia đình phải xác định như thế nào?

Theo khoản 2 Điều 1 Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 quy định: Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình

Cụ thể các hành vi theo pháp luật được coi là bạo lực gia đình bao gồm:

  • Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
  • Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
  • Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
  • Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
  • Cưỡng ép quan hệ tình dục;
  • Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
  • Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
  • Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
  • Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Các hành vi trên phải mang tình chất thường xuyên, lặp đi lặp lại nhiều lần tuy đã được các cá nhân và tổ chức có trách nhiệm thẩm quyền khuyên bảo hòa giải, răn đe nhưng vẫn tiếp tục; hoặc những trường hợp kể cả những hành vi không mang tính chất thường xuyên nhưng lại gây ra hậu quả thương tích, nạn nhân bị tổn hại về sức khỏe, tinh thần vẫn được coi là căn cứ xác định.

Như vậy, các chủ thể trong quan hệ hôn nhân bị vợ/chồng có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình. Hiến pháp Việt Nam 2013 đã quy định về quyền con người cụ thể: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Do đó, cá nhân là đối tượng bị bạo lực gia đình bị xâm phạm về quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân gia đình quy định rằng khi bị bạo lực gia đình vợ/chồng xâm phạm đến thân thể, danh dự, tinh thần có quyền đơn phương ly hôn.

Căn cứ nào để xác định một vi phạm là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được?

Theo pháp luật hiện hành, việc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được không được pháp luật quy định giải thích rõ ràng. Vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng được hiểu là quan hệ hôn nhân không tồn tại trên thực tế như vợ chông đã ly thân, vi phạm chế độ một vợ một chồng, thiếu tiến bộ, không tự nguyện, vi phạm nghiêm trọng đạo đức khác như ngoại tình, sống ly thân, …. cũng được coi là căn cứ xác định để chấm dứt ly hôn.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Theo khoản 2 điều 68 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Pháp luật quy định cụ thể khi Tòa án tuyên bố một người mất tích thì quyền nhân thân của họ đối với các quan hệ xác lập trước khi bị tuyên bố mất tích bị tạm dừng. Để tuyên bố một người mất tích phải sau 02 năm họ biệt tích như vậy trong khoảng thời gian này mối quan hệ hôn nhân trên thực tế không diễn ra, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng không được đảm bảo thực hiện, việc chung sống không tồn tại thì có căn cứ để Tòa án giải quyết ly hôn (nếu bên còn lại có yêu cầu).

3. Cha mẹ và người thân khác xung quanh có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Đây là một điểm mới trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 theo quy định  này trong mối quan hệ hôn nhân không chỉ riêng vợ/chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn. Cha mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong trường hợp sau:

Khi một bên vợ/chồng do bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi bản thân mình đồng thời họ phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ/chồng của họ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng sức khỏe, tinh thần của họ

Như vậy phải đảm bảo cả hai điều kiện cần là họ bị bệnh tâm tâm thần hoặc bệnh khác mà /chồng của họ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ không thể nhận thức làm chủ được hành vị của bản thân và điều kiện đủ họ phải la nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ/chồng họ gây ra. Thì cha mẹ hoặc người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án án giải quyết ly hôn do pháp luật bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, tinh thần.

Lưu ý: Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Mọi thông tin thắc mắc cần giải đáp xin vui lòng liên hệ:

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775